Author comment highlighting and notification!

After a break of a week or two, I am back again. I now have some hacks for the comments section - a hack to highlight your comments as the blog author and another to notify your readers when you respond to their comment. You might have noticed that my comments are displayed in red here in my blog and that's what I mean by "highlighting". I believe it helps my readers to identify my response to their questions amidst a long list of comments. Some of my readers asked me how to do this in their blog and here I am sharing what I did.

Author comment notification is another hack that I did for the old Blogger. When somebody posts a question/comment in your blog and you respond to him, the commenter may not see the response unless he checks your blog a few times. If (s)he landed in your blog through blog search or Blogger's next blog chain, (s)he may not even remember your blog's URL. Sometimes, you type a long response and it goes into blackhole. With this notification, you can send an automated email message to the commenter with just one click. This message will contain your name, your post’s title and its permanent link so that the commenter can easily come back and see your response. This hack is actually a service hosted in my website bvibes.com. [Please note that notification can be sent only to those who have shared their email address in their Blogger profile.]

Now, for the code changes. First find this class called comment-body, copy it to define another class comment-body-author and modify it for the way your comments should look like. For example, here I have set the color to what I want and made it bold.

Then, search for "id ='comments-block'" in your template to identify the portion of code in this page and add the new code shown in red and blue. The red one is for author comment highlighting and the blue one is for comment notification.

After you make those changes, goto any post page with comments and you will see the an image after every comment (NOT in the comments page where you type comments). As you can see in this example, there's an image below Richard's comment.

Once I respond to Richard, if I click that image, an email similar to the following one will be sent to the email address in his profile. [If the person has not shared an email address, no email will be sent.]

Subject: Response to your comment has been posted
"Ramani has responded to your comment on Peekaboo posts improved again. Please click this link to see the response."

As a security feature, this image will be shown ONLY when the blog author is logged into Blogger. Visitors to your blog won't see this image and so they won't be able to use this feature. Also, be judicious in using this service (if you send emails for trivial responses, your readers may not like it).

Nguồn: hackosphere.blogspot.com

Cảm ơn bạn đã ghé thăm Blog của tôi, nếu bạn muốn theo dõi thường xuyên các bài viết hãy đăng ký nhận bản tin RSS. Và nếu bạn có thắc mắc hay góp ý gì về các bài viết, xin hãy để lại nhận xét của mình bằng cách nhấp vào link "Đăng một nhận xét mới" hoặc "Post a Comment" ở phía dưới. Xin cảm ơn!.

15 Bình luận

Nhận xét

  1. HO` CHU TICH QUA VI DAI:

    Hồ Chí Minh thần tượng hay huyễn tượng
    Wednesday, 17 December 20082 y kienÔng Hồ và Nông Thị Xuân - người được nói là đã có 1 con trai với ông

    Ngô Đức Diễm - Hồ Chí Minh, một nhân vật được Đảng Cộng Sản Việt Nam tôn thờ như một lãnh tụ thần thánh, và cũng thường được thế giới nhắc tới như một nhà cách mạng Việt Nam đáng kính. Nhiều tác giả từ Đông sang Tây đã từng viết về nhân vật lịch sử này, khen cũng có mà chê cũng không ít. Mới đây, hai sự kiện khá lý thú vừa xảy ra đang làm dư luận chú ý. Hội Đồng Thành Phố Acapulco của Mễ Tây Cơ đã thông qua quyết nghị vinh danh Hồ Chí Minh như một anh hùng Việt Nam và dựng tượng họ Hồ bên cạnh tượng Gandhi tại thành phố du lịch này. Trong khi đó, Giáo Sư Hồ Xuân Hùng tại Đài Loan mới đây vừa tung ra qủa bom làm chấn động dư luận, cho rằng Hồ Chí Minh không phải là người Việt Nam mà là người Trung Hoa, thuộc sắc tộc He (Hakka). Trước những cái nhìn trái ngược đó, thiết tưởng đặt lại vấn đề “Hồ Chí Minh là thần tượng hay huyễn tượng” là điều hợp lý và hợp tình.

    Hồ Chí Minh là ai? Cho đến nay, người ta vẫn chưa tìm thấy câu trả lời dứt khoát. Thực vậy, tên tuổi, ngày tháng, năm sinh cũng như quãng đời hoạt động của họ Hồ đã được ghi lại một cách khác nhau, biến nhân vật lịch sử này thành một dấu hỏi lớn, nếu không nói là một huyền thoại! Theo nhiều tài liệu được viết ra, Hồ Chí Minh tên thật là Nguyễn Sinh Cung. Con ông Phó Bảng Nguyễn Sinh Huy có tên sổ bộ là Nguyễn Tất Sắc. Bước vào con đường hoạt động chính trị, Nguyễn Sinh Cung đổi tên là Nguyễn Tất Thành, rồi Nguyễn Ái Quốc và chính thức là Hồ Chí Minh.

    Khuynh hướng đề cao Hồ Chí Minh không hẳn là thiếu phổ biến. Với Đảng Cộng Sản Việt Nam, Hồ Chí Minh là vị “cha già dân tộc” khả kính, soi đường dẫn lối đưa dân Việt tới đài vinh quang. Theo người cộng sản, tư tưởng Hồ Chí Minh cũng được sánh ví ngang hàng với tư tưởng Mác-Lê trong vai trò chỉ đạo, nên Điều 4 Hiến Pháp cộng sản Việt Nam đã ghi rõ “Đảng cộng sản Việt Nam…theo chủ nghĩa Mác Lê và tư tưởng Hồ Chí Minh..là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội.” Bên cạnh tư tưởng chỉ đạo, người cộng sản còn đề cao đạo đức cánh mạng của Bác Hồ như một ông thánh, hy sinh hạnh phúc cá nhân để phục vụ dân nước. Nào là Bác sống độc thân không vợ không con. Nào là Bác sống một đời thanh đạm, ở nhà sàn, chân đi dép lốp, mặc áo Khaki..Nhất là Bác luôn luôn đề cao những giá trị độc lập tự do thống nhất, và còn chú trọng đến chính sách “thụ nhân” chủ trương “mười năm trồng cây, trăm năm trồng người..” Chính vì những công lao đáng nhớ đó, nên Đảng cộng sản Việt Nam mới cố gắng duy trì hình ảnh “Bác sống mãi trong quần chúng” với xác ướp và lăng Hồ Chí Minh tại Ba Đình, giống như xác ướp Lê Nin tại Quãng Trường Đỏ Cẩm Linh. Nhất là Đảng cộng sản Việt Nam còn lấy tên Hồ Chí Minh đặt cho thủ đô Sài Gòn ngày 1 tháng 5 năm 1975 để nhớ công ơn “giải phóng miền Nam” theo di chúc của Bác.

    Không phải chỉ có cộng sản Việt Nam tôn vinh Hồ Chí Minh làm cha già dân tộc, mà chính cơ quan Unesco thuộc Liên Hiệp Quốc trong phiên họp khoáng đại ngày 20 tháng 10 năm 1987, đã thông qua quyết nghị vinh danh Hồ Chí Minh như một anh hùng văn hóa (great man of culture) trong ngày sinh nhật thứ 100 của họ Hồ. Nhưng quyết định đó không được thực hiện vì bị cộng đồng người Việt chống đối mạnh mẽ, đưa ra ánh sáng những sự thật tiêu cực đàng sau những huyền thoại được tô son điểm phấn đầy tính cách lừa phỉnh.

    Mới đây nhất là sự kiện thành phố Acapulco của Mễ Tây Cơ quyết định vinh danh Hồ Chí Minh như một anh hùng dân tộc và dựng tượng họ Hồ bên cạnh tượng Gandhi tại thành phố tươi đẹp trên bờ Thái Bình Dương này. Quyết nghị này đã làm dân Việt khắp nơi bất bình phẫn nộ. Trước sự vận động mạnh mẽ của Tổ Chức Phục Hưng Việt Nam, 20 cộng đồng người Việt từ Úc Châu, Canada, Pháp, Hòa Lan, Bỉ và đặc biệt là Hoa Kỳ đã ký tên trong một thư ngỏ đăng trên nhật báo El Sur ngày 7 tháng 12 năm 2008, đòi hỏi Hội Đồng Thành Phố Acapulco hủy bỏ quyết định gây sóng gió nói trên, đồng thời phô bày bộ mặt thật của họ Hồ cho thế giới. Theo thư ng

    Trả lờiXóa
  2. Sự Thật Về Hồ Cáo Là Ai????

    Xin kính gửi đến toàn thể quý vị lời đề nghị của báo Tiền Phong. Chúng tôi tha thiết xin quý vị hãy giúp các bạn trẻ tại Việt Nam trong việc “nâng cao sự hiểu biết về thân thế và sự nghiệp (THẬT SỰ) của Hồ Chí Minh”. Sau đây là sự hiểu biết tổng quát của giới trẻ chúng tôi tại hải ngoại về Hồ Chí Minh. Xin nhờ anh Nguyễn Thế Vinh thuộc báo Tiền Phong, Trung tâm thông tin (Ban Khoa giáo Trung ương) và công ty NetNam đăng hộ trong trang Web “Bác Hồ với tuổi trẻ” của mấy anh.

    Nghĩ đến đâu viết đến đấy, có lẽ không gọn gàng cho lắm, xin anh đừng chấp. SỰ THẬT là trên hết phải không anh? Xin chân thành cảm ơn Vọng Trấn Quốc HỒ CHÍ MINH? Tên tục Nguyễn Sinh Cung, đến năm 10 tuổi trở thành Nguyễn Tất Thành Cha là Nguyễn Sinh Huy, say rượu, ra lệnh đánh phạm nhân là Tạ Đức Quang gây ra án mạng, bị giáng chức xuống 4 cấp và bãi chức Tri huyện Bình Khê (tỉnh Bình Định - ngày 17.09.1910). Phải bỏ xứ vào tận miền Tây Nam Việt để tìm kế sinh nhaị Gia đình tan nát, cha bị án mất chức, Nguyễn Tất Thành phải bỏ học, giải quyết cuộc sống tạm thời, cho bản thân và khả dĩ giúp đỡ gia đình. Đó là ý nghĩa của đơn xin vào học Trường thuộc địa mà Nguyễn Paul Tất Thành đã gửi cho Tổng trưởng bộ thuộc địa và Tổng thống Pháp vào ngày 15.09.1911 ngay khi tới Marseille .

    Đơn xin bị khước từ, mộng làm quan (thuộc địa) bất thành, làm nghề sửa ảnh tại Paris để gửi tiền về cứu đói gia đình. Tại Paris, cuỗm bút hiệu chung “Nguyễn Ái Quốc” của các cụ Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh và Nguyễn Thế Truyền tại Pháp (thuộc “Đồng bào Ái hữu hội”, đến năm 1914 đổi ra thành “Hội những người An-nam yêu nước). Bắt đầu hoạt động chính trị vào tháng 12 năm 1917. Lần lượt trở thành đảng viên đảng xã hội Pháp, đảng cộng sản Nga và đảng cộng sản Trung Quốc. Suốt đời cung cúc tận tụy cho nhiệm vụ quốc tế vô sản, trung thành với tư tưởng Mác-Lê, vận dụng công cuộc đấu tranh cho dân chủ dân tộc để đi đến xã hội chủ nghĩa ngoại lai, thực hiện cách mạng thế giới vô sản. Bán cụ Phan cho mật thám Pháp để lấy 100 ngàn đồng (1925).

    Những năm ở Trung Quốc, chiêu dụ thanh niên Việt Nam tại Trung Quốc theo học trường Hoàng Phố chuyển qua cộng sản. Thông báo cho Pháp bắt những ai khước từ. Văn khố lưu trữ tài liệu của các “công dân quốc tế” ở Mạc Tư Khoa đã phá vỡ “huyền thoại của con người suốt đời thờ chủ nghĩa độc thân khắc kỷ, để chuyên phục vụ cho quốc gia dân tộc” : mối tình đơn phương với cô đầm tên Bourdon tại Paris, người vợ Nga tại Mạc Tư Khoa, thiếu nữ Tàu tên Lý Sâm tại Hương Cảng, một thiếu nữ Tàu khác tại Vân Nam (do tướng Long Vân cung ứng), vợ chính thức Nguyễn Thị Minh Khai, bí danh Phan Lan tại Mạc Tư Khoa (1934), tán tỉnh vợ chưa cưới của Châu Ân Lai, vô số nữ “cần vụ”.

    Ngoại trừ Nguyễn Thị Minh Khai, những người đàn bà của Hồ Chí Minh đều bị thủ tiêu để giữ tròn hình ảnh “không vợ con, tận tụy lo việc nước việc dân”. Điển hình là vụ bức tử bà Hồ Chí Minh, tên Nguyễn Thị Xuân, phục vụ “Bác” vào đầu năm 1955 và sinh được một cậu con trai vào năm 1956, được “Bác” đặt tên Nguyễn Tất Trung. Cô Xuân bị đánh vỡ sọ chết bằng búa vào ngày 12.02.1957, xác để ở bệnh viện Phủ Doãn. (Năm 1969, Hồ Chí Minh chết, Thư ký riêng Vũ Kỳ đem Nguyễn Tất Trung, con trai của Minh Xuân và Hồ Chí Minh về làm con nuôi, đặt tên mới là Vũ Trung)

    Nguồn gốc cái tên Hồ Chí Minh như sau : 1942, dưới tên Hồ Quang, Lý Thụy (một bí danh khác của HCM) sang Trung Quốc vận động đ-ảng cộng sản Trung Quốc giúp đỡ cho phong trào giải phóng. Và để tránh sự phát hiện của Trung Hoa Quốc Dân Đảng, tìm tên mới, có liên quan đến người vợ Nguyễn Thị Minh Khai mới mất - người đàn bà để lại dấu ấn tình cảm sâu đậm nhất trong tâm khảm họ Hồ- làm kỷ niệm (Minh Khai bị Pháp xử bắn vào tháng 8.1941, sau vụ bạo động 1940 thất bại tại miền Nam). Nên Hồ Quang đổi chữ Quang ra chữ Minh (2 từ gần đồng nghĩa), rồi thêm chữ Chí = Hồ Chí Minh, để nói lên tâm tình của ông dành cho Minh Khai là “trọn vẹn”, “đến nơi đến chốn”. Về nước phát động kháng chiến giành độc lập, noi gương Staline, Mao “sùng bái cá nhân” bằng cách tự xưng

    Trả lờiXóa
  3. Ai giết Hồ Chí Minh



    Sáng ngày 2-9-1969, trời miền Bắc Việt Nam u ám, nhiều mây, có mưa nhẹ lác đác nhiều nơi. Người dân nôn nao đón chờ "thông điệp Quốc Khánh" của Hồ Chí Minh. Không khí chính trị ngột ngạt do sự leo thang chiến tranh của tân tổng thống Mỹ Nixon càng làm cho cán bộ đảng viên và thường dân miền Bắc hoang mang khi nghe bài diễn văn vắn tắt, tầm thường-nếu không muốn nói là nặng mùi tử khí-của Phạm Văn Ðồng báo hiệu một biến cố bất thường đã xảy ra. Người ta sầm xì: "Hồ Chí Minh đã bị giết?"Sau đó ít lâu, nhà cầm quyền mới thông báo "Hồ Chủ Tịch đã mất ngày mồng 3 tháng 9."Mãi hàng chục năm sau người ta mới dám nói thực là ông Hồ đã chết vào đúng ngày "Quốc Khánh 1969". Hai năm cuối đời ông Hồ thường đau yếu luôn và hay sang Trung Quốc để cho các danh y của Cộng Ðảng xứ này chữa trị. Ông ta cũng mừng sinh nhật cuối cùng (19-5-1969) ở đây luôn, có người cho rằng ông ta muốn qua những tháng ngày cuối đời tại miền đất mà ông đã có những kỷ niệm "tình cảm đầy tính con người" vào những năm 20 và 30 khi ông hoạt động gián điệp cho quốc tế cộng sản và cho việc thành lập và đào tạo đảng cộng sản VN sau này. Nói trắng ra là ông muốn sống lại những giờ phút ái ân với những người đẹp trong dĩ vãng.

    Sử gia Mỹ William Duiker thuật lại rằng nhân chuyến đi chữa bệnh này, ông Hồ còn ngỏ lời với một cán bộ cao cấp địa phương muốn ông này tìm cho một phụ nữ Trung Hoa thật trẻ và đẹp, có lẽ để ông dùng làm thuốc trì hoãn sự lão hóa và đẩy lùi thần chết. Ðồng chí nước bạn và cũng là chỗ tâm giao của ông hỏi "sao đồng chí không lấy một cô Việt Nam có phải dễ dàng không" thì ông bảo: thiếu nữ Việt đều coi ông là Bác cả, khó lắm. Thế là bạn ông đem trình sự việc với thủ tướng Chu Ân Lai. Ông này phán rằng việc hôn nhân của lãnh tụ V.N. phải hỏi ý kiến bộ chính trị Việt Nam. Có lẽ nhóm Lê Duẫn không tán thành, nên chuyện đó chưa đi đến đâu thì ông Hồ đã chết trong sự ngờ vực của người dân miền Bắc. Nhưng rồi chiến cuộc với hàng trăm biến cố khác đã làm cho những chuyện đó rơi vào quên lãng. Cho đến nay không ai còn đặt lại câu hỏi ai giết ông Hồ nữa. Tuy nhiên kẻ viết bài này có thể khẳng định: ông Hồ, -- như một số người thường mô tả là một "nhà ái quốc", một "anh hùng dân tộc", thậm chí "một nhà văn hóa lớn" (1) -- đã bị giết rồi.Và người thủ tiêu họ Hồ không ai khác hơn là "nhà văn hóa" Trần Dân Tiên, tác giả "Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch", hoàn tất vào mùa xuân năm 1948 (2). Hơn hai chục năm không ai biết tác giả Trần Dân Tiên là ai. Cho đến khi chiến tranh kết thúc "đảng ta" mới xác nhận đó là "Bác".

    Ðây là một chuyện hy hữu trong lịch sử văn học và chính trị thế giới: Một lãnh tụ chính trị, chủ tịch một nước viết hồi ký để tự ca tụng chính mình. Vũ Thư Hiên, trong cuốn "Ðêm Giữa Ban Ngày" cho rằng đây là một việc "thừa và ngớ ngẩn". Riêng người viết không nghĩ thế. Ðặt sự việc vào bối cảnh chính trị nước nhà trong thời gian ông Hồ cặm cụi nắn nót cho ra đời cuốn sách vô tiền khoáng hậu này thì sẽ thấy ông ta có lý do để làm việc đó. Ông biết rõ đàn em của ông và những tay văn nô dù có khả năng đến mấy cũng không thể làm việc này thay ông được. Là bởi vì trong số các cán bộ cộng sản Việt nam lúc ấy chỉ có ông là người đã được học đến nơi đến chốn và có kinh nghiệm thực hành nhuần nhuyễn nghệ thuật tuyên truyền và khuấy động quần chúng. Ông muốn đem ngón nghề chuyên môn của mình ra làm những công việc sau đây trong kiệt tác tuyên truyền này.

    1. Tạo cho quần chúng Việt Nam một thần tượng để ông có thể nhân danh thần tượng này đẩy toàn dân vào chỗ đạn lửa hòng ông đạt được mục tiêu cuối cùng là nắm trọn quyền bính trong tay

    2. Loại trừ tận gốc rễ những phần tử đối nghịch dám chống lại ông và đảng của ông như các đảng Ðại Việt, Việt Cách, Việt Quốc.

    3.Che giấu bộ mặt thật của ông là một gián điệp quốc tế, tay sai của Quốc Tế Cộng Sản, tức Liên Xô và Trung Cộng.

    Nhưng ông khôn mà không ngoan. Gian xảo quỷ quyệt quá thành ra để lòi đuôi cáo, khiến cho tiếng tăm về lòng ái quốc giả đối của ông bị tiêu ma từ đây. Chúng ta thử xem về ch

    Trả lờiXóa
  4. Thượng Tướng Công An Thi Văn Tám - Bị Giết Hay Bệnh Chết?




    Hoàng Giang - ĐDCND







    Thượng tướng Công An Thi Văn Tám








    Ngày 15 tháng 12 năm 2008 đồng loạt các đài báo loan tin Thượng Tướng, Thứ trưởng Bộ Công an Thi Văn Tám, phụ trách an ninh đã bị bệnh chết ngày 12 tháng 12 năm 2008. Thượng tướng Thi Văn Tám chết ngày 12, mãi đến 15, tức 3 ngày sau đài báo mới loan tin. Tất cả các thông tìn đều giống nhau "Thượng tướng Thi Văn Tám - Thứ trưởng Bộ Công an, vừa từ trần hồi 2 giờ ngày 12/12/2008 tại TPHCM . Sau một thời gian lâm bệnh, đồng chí đã được Đảng, Nhà nước, Bộ Công an, gia đình và các giáo sư, bác sĩ tận tình cứu chữa, nhưng vì bệnh nặng, đồng chí đã từ trần hồi 2h00', ngày 12/12/2008 (tức ngày 16/11 năm Mậu Tý) tại TP Hồ Chí Minh."



    Không có báo nào giải thích Tướng Tám bị chết vì bệnh gì? bệnh bao lâu? nằm bệnh viện nào? Bác sĩ tuyên bố bệnh trạng trầm trọng ra sao? và chết như thế naò? Trước cái chết của Thượng tướng công an, cả trăm tờ báo đều loan tin giống nhau, đó là "sau thời gian lâm bệnh, dù được Đảng và nhà nước cho bác sĩ tận tâm cứu nhưng vì bệnh nặng nên đồng chí Tám đã từ trần". Điều này có nghĩa là thông tin về cái chết của Thượng Tướng Thi Văn Tám đã được Bộ Công an chuyển ra báo chí để loan báo một cách rất hạn chế, mập mờ.





    Một vị tướng làm tới chức Thượng Tướng, lại là tướng chuyên chống gián điệp thì ông ấy có lắm kẻ thù ở bên ngoài vì biết quá nhiều chuyện tối mật. Bên trong, ông ấy có thể bị đảng thanh trừng vì những tranh dành quyền lực, vì những bí ẩn "thâm cung bí sử" trong triều đại CS. Việc Tướng Thi Văn Tám đột tử vì nhiều nguyên do bí ẩn, ngoài lý do bị "bệnh nặng" như thông tin của Đảng, không loại trừ khả năng ông Thượng Tướng Thi Văn Tám bị Đảng cho thủ tiêu vì tranh dành quyền lực.






    Ngày 12 tháng 12 năm 2008, Tướng Thi Văn Tám bị đột tử, chết không rỏ lý do. Thông tin Đảng nói chỉ vỏn vẹn là "đồng chí bị bệnh nặng". Điều không bình thường là nếu Tướng Tám bị bệnh nặng, bệnh mãn tính và đã được đảng tận tâm điều trị thì Tướng Tám và gia đình phải biết ông bị bệnh gì? bệnh trạng kéo dài bao lâu? trước đó đã chửa trị, thuốc men như thế nào? Bao nhiêu ngày tháng nằm bệnh viện, ở đâu? bác sĩ điều trị chuẩn y ra sao v.v.. Rõ ràng cái chết của ông Thượng Tướng Thi Văn Tám là cái chết độc tử, mờ ám. Độc tử vì trước khi chết ông Tướng Tám đã rất khỏe, bình thường, phục vụ công tác Đảng CSVN đắc lực, đạt nhiều công trạng cho đảng nên đã được liên tục được thăng cấp. Tháng 2/2002, đồng chí Tám được thăng cấp bậc hàm Thiếu tướng; tháng 12/2004, được thăng cấp bậc hàm Trung tướng; tháng 12/2008, được thăng cấp bậc hàm Thượng tướng An ninh nhân dân. Đặc biệt, Tướng công an Thi Văn Tám là người đã ra lệnh an ninh triệt tiêu và đàn áp thẳng tay, đánh đập dã man các anh chị em hoạt động trong Phong trào Dân chủ.






    Tháng 12 năm 2008 ông đã được Bộ Chính Trị thăng cấp Thượng tướng, nghĩa là chỉ trong vòng có hơn 10 ngày trước khi chết "đồng chí" Trung Tướng Thi Văn Tám còn được thăng cấp lên Thượng Tướng. Rà xét lịch trình làm việc của Thượng Tướng Tám cho thấy ông rất khỏe mạnh, không có dấu hiệu bị bệnh. Sinh năm 1948, Thượng tướng Thi Văn Tám còn rất trẻ và sức khoẻ để cống hiến cho Đảng. Ông đi công tác xa liên tục, không có thời gian nào bị gián đoạn. Như vậy suốt thời gian trước và sau khi phong cấp, ông Tướng Thi Văn Tám không có nằm bệnh viện, không có bi bệnh nặng đến nỗi bác sĩ tài giỏi của Đảng CSVN phải bó tay như thông tin Đảng loan báo.





    Ngày 26 tháng 10 năm 2008, Trung tướng Thi Văn Tám đã xuống tận Kiên Giang để tham dự cuộc họp với Bộ trưởng Bộ Nội Vụ Campuchia. Những lãnh đạo an ninh cộng sản tham dự phiên họp quan trong này bên cạnh ông Thi Văn Tám còn có cả Đại tướng Lê Hồng Anh, Bộ trưởng Bộ Công An và Thứ trưởng công an, Trung tướng Lê Thế Tiệm.





    Ngày 14/11 năm 2008, T

    Trả lờiXóa
  5. Ai Giết Thượng Tướng Thi Văn Tám?

    Hoàng Giang - ĐDCND

    An táng Thượng tướng Công an Thi Văn Tám (Hình Báo Công an)

    Ngày 12 tháng 12 năm 2008 ông Thi Văn Tám, Thượng tuớng Công an, đặc trách về gián điệp đã bị đột tử. Mặc dù báo đài thông tin ông tướng Tám bị "bệnh chết" nhưng các thông tin mật và những sự kiện gần đây cho thấy ông Tướng Tám đã bị thanh toán chết. Có dư luận cho rằng trên chuyến công tác bay về lại Thành phố, vừa đến nhà thì ông chết, vì uống nước bị thuốc độc trên máy bay. Tin khác cho biết ông Tướng Tám dự trù đi Thủ Đức và Bình Thuận để thăm trại giam, chuẩn bị cho màn trình diễn đặc xá tù đầu năm 2009. Trên đường đi thì bị giết, chuyến công tác phải đình hoãn và giao lại cho Thượng tướng Lê Thế Tiệm.

    Việc các tướng lãnh Công an gần đây bị đột tử do tranh giành quyền lực hoặc vì nhu cầu cần bịt đấu mối cũng không phải là điều ngạc nhiên. Trong giới công an, nhất là phiá Tổng Cục Tình Báo cũng đã thủ đắc nhiều phương tiện mờ ám, tài chánh và nhân sự chuyên nghiệp, nên ra tay hạ độc thủ chỉ là chuyện ‘thường ngày ở huyện".

    Trước kia, đối với phiá quân đội, hàng loạt vụ thủ tiêu đã từng xảy ra. Cái chết cũa những Tướng như Hoàng Văn Thái, Chu Văn Vấn, Lê Trọng Tấn v.v.. đã làm cho tập thể tướng lãnh CSVN phải thần phục đảng qua cơ cấu quyền lực Tổng Cục 2 (TC2). Năm 1987, Lê Đức Anh đột nhiên lên nắm Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng ngay sau cái chết mờ ám của đại tướng Hoàng Văn Thái và Lê Trọng Tấn. Sau đó, Lê Đức Anh đã chỉ thị cho Trung tướng Phan Bình phải về hưu, giao toàn bộ Cục Quân Báo cho đàn em của Lê Đức Anh. Cục Quân Báo, tức Cục 2 đổi thành Tổng Cục 2 (TC2). Vừa bàn giao lại nhiệm vụ thì Trung tướng Phan Bình cũng bị giết chết ngay.
    Nhân Tướng Tám bị đột tử, đang trong vòng "nghi vấn", tưởng cũng nên nhắc lại sự kiện Trung tuớng Phan Bình, Cục trưởng Cục An ninh Tình báo của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam, đã bị giết bất đắc kỳ tử. Đêm 13 tháng 12 năm 1987, tại nhà nghỉ Cục 2, số 30 Lê Qúy Đôn, TP Hồ Chí Minh khi Tướng Phan Bình từ Hà Nội vào TP Hồ Chí Minh để thăm viếng bạn bè, các đầu mối quen biết cũ thì bị ám sát chết. Tướng Phan Bình cũng giống như Tướng Thi Văn Tám, cả hai đều nắm chuyên nghành tình báo. Có khác chăng là Tướng Bình thuộc quân đội và đã nghĩ hưu sau khi bàn giao hết các nhiệm vụ lại cho cục trưởng mới - Tư Văn thì bị giết để bịt đầu mối mà theo dư luận cho rằng đây là đòn hạ thủ của Tổng Cục 2 (TC2).

    Sau cái chết của Trung tướng Phan Bình, Tổng Cục 2 đã báo cáo lên TW đảng CSVN là vì "đồng chí Phan Bình bệnh tâm thần nên đã tự sát". Dù vậy, giới tình báo quân đội và nhiều lãnh đạo Đảng không thuộc cánh TC2 đều biết Trung Tướng Phan Bình đã bị giết, TC2 tạo dựng chứng cứ giả để bưng bít, lưà dư luận. Điều này, Trung tướng Quân đội, Uỷ viên Trung ương Đảng như Lê Văn Hiền, Thượng tướng Nam Khánh, Thượng tướng Nguyễn Minh Châu v.v...cũng đều xác nhận như vậy.

    Theo báo cáo của TC2 thì "đồng chí" Phan Bình đã tự sát. Nhưng theo lời thuật của Tướng Nguyễn Minh Châu, tư lệnh quân khu 7 thì báo cáo đó không đúng sự thực. Trung tướng Phan Bình bị giết chết đêm 13 tháng 12 năm 1987, trong tư thế ngã sấp trước phòng khách, sát thủ bắn ngay đầu, toác một lỗ thủng rất rộng, chứng tỏ người bắn ở cự ly gần, quen biết và tiếp cận Tuớng Phan Bình rồi bất ngờ rút súng bóp cò nên Tướng Bình trở tay không kịp. Hơn nữa, sau khi bàn giao lại nhiệm vụ Cục trưởng Cục An ninh Tình Báo cho Tư Văn, Tướng Bình đã bị lấy lại súng ngắn, nhẽ ra ở cương vị của ông phải có súng để phòng thân. Điều này sát thủ đã được thông báo trước nên an tâm, ra tay gọn nhẹ.

    Tàn bạo hơn nữa là sau khi Tướng Phan Bình bị giết, một tháng sau, con trai của ông, sỹ quan trong quân đội cánh quân báo, phát giác cái chết của cha mình do bị "ám sát" thì cũng chết một cách mờ ám khi bị ép đưa vào bệnh viện lý do ‘tâm thần'. Như vậy, chỉ trong vòng một tháng, cả bố lẫn con Tướng Phan Bình bị giết chết với những thủ đoạn tàn ác, mờ ám và bất chấp dư luận. Cái chết của cha con Tướng Phan Bình đã làm cho cánh quân đội, nhất là sỹ quan cao cấp

    Trả lờiXóa
  6. 50 Năm Bức Công Hàm ban' nuoc' cua thu tuong' csvn pham van dong` qua Ô Nhục:

    BNS Tự Do Ngôn Luận
    Các bài liên hệ:
    Bãi Tục Lãm: Lại Mất Thêm Đất !

    Nhờ lòng tận tụy mẫn cán, tuyệt đối trung tín, tối mặt vâng lời đảng của lực lượng công an cảnh sát, của giới giáo chức đại học, của hàng thủ lãnh đoàn thanh niên Cộng sản, cũng như nhờ sự im lặng đồng lõa, dửng dưng bất biết của nhiều lãnh đạo tinh thần, ngày 14-09-2008, thay vì biến thành một hội nghị Diên Hồng thời mới, xé toang Công hàm bán nước ô nhục cách đây 50 năm, thì đã lặng lẽ trôi qua trong tinh thần “ổn định chính trị”!!! Không lặng lẽ trôi qua sao được khi những “tên đầu sỏ” dám khua môi múa mép chống lại Thiên triều, giăng biểu ngữ phản đối Đại Hán, cất cao giọng đòi Bộ chính trị rửa nhục, đã bị cho vào nhà đá hay bị canh giữ tại nhà tư kể từ hôm 10-09 và những ngày kế tiếp rồi.

    1- Cách đây 50 năm, cũng trong sự lặng lẽ của toàn xã hội miền Bắc, sự câm nín của Quốc hội bù nhìn nước Việt Nam Dân chủ, bộ chính trị mà đứng đầu là Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng đã mau mắn đáp lời đàn anh Trung Quốc vĩ đại. Các “đồng chí kính mến, không thể sai lầm” Mao Chu vừa viết: “Bề rộng lãnh hải của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc là 12 hải lý. Ðiều lệ này áp dụng cho toàn lãnh thổ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, bao gồm phần đất Trung Quốc trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Ðài Loan (tách biệt khỏi đất liền và các hải đảo khác bởi biển cả) và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu, quần đảo Ðông Sa, quần đảo Tây Sa [tức Hoàng Sa], quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa [tức Trường Sa], và các đảo khác thuộc Trung Quốc”. Thế là, dù biết đó là đất đai tiên tổ để lại mà người anh em đồng bào khác chính thể đang quản lý, và đang khi Tuyên bố của Trung Quốc còn chưa ráo mực, Hồ Chí Minh cũng đã ngang nhiên chỉ thị cho Phạm Văn Đồng trả lời: “Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của Chính phủ Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc. Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa trên mặt bể”. Quả thật Trần Ích Tắc, Mạc Đăng Dung, Lê Chiêu Thống cùng bao tên bán nước trong lịch sử dân tộc phải bái Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng làm sư phụ vì họ đã không mau mắn quỵ lụy Triên triều bằng. Lịch sử mấy nghìn năm chống Bắc phương của Đại Việt kể như chấm dứt từ giây phút đó!

    Chưa hết, hơn một tuần sau, báo Nhân dân ra ngày 22-09-1958 đã đăng toàn văn Công hàm vừa kể, để toàn đảng, toàn dân và toàn cầu biết hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ nay không còn là của Việt Nam nữa. Đến tháng 02-1972, Cục Đo đạc và Bản đồ, trực thuộc phủ thủ tướng CSVN, lại phát hành Tập Bản Đồ Thế Giới, trong đó Hoàng Sa và Trường Sa bị đổi tên là Tây Sa và Nam Sa, đúng theo ý muốn của Trung Quốc. Rồi để giáo dục cho các thế hệ trẻ, Sách địa lý xuất bản năm 1974, trong bài "Nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa" có viết rằng: "Chuỗi hải đảo từ Nam Sa (Trường Sa) và Tây Sa (Hoàng Sa) tới Hải Nam và Đài Loan là bức tường thành bảo vệ lục địa Trung Quốc". Tháng 5-1976, báo Saigon Giải Phóng (của những tên Việt cộng nằm vùng Ngô Công Ðức, Lý Quý Chung…), trong bài bình luận việc Trung Quốc chiếm Hoàng Sa bằng võ lực ngày 19-01-1974, đã nói: “Trung Quốc vĩ đại đối với chúng ta không chỉ là đồng chí, mà còn là người thầy tin cẩn đã cưu mang chúng ta nhiệt tình để chúng ta có ngày hôm nay. Vì vậy chủ quyền Hoàng Sa thuộc Việt Nam hay thuộc Trung Quốc cũng vậy thôi!”. Khi nào ta muốn lấy lại thì Trung Quốc sẵn sàng giao trả !?! Rồi dù ngày 14-3-1988, Việt Cộng và Trung Cộng đã giao tranh đẫm máu tại Trường Sa khiến cho 74 chiến sĩ Quân đội Nhân dân vị quốc vong thân và một số đảo ở đấy rơi vào tay Trung Cộng (nhưng tin tức bị giấu nhẹm trên báo đài), trên tờ Nhân Dân số ra ngày 26-4-1988 ngay sau đó, Việt Cộng vẫn xác nhận sự kiện Hồ Chí Minh thừa nhận hai đảo thuộc Tàu năm 1958 là hợp lẽ.

    Đang khi đó

    Trả lờiXóa
  7. VUA HUNG` CO' CONG DUNG NUOC' VA` GIU NUOC' BAC' CHAU' TA CUNG` NHAU BAN' NUOC':

    NGAY` 14-09-1958:
    50 Năm Công Hàm Bán Nước Của Phạm Văn Đồng

    Trung Điền
    Các bài liên hệ:
    Bãi Tục Lãm: Lại Mất Thêm Đất !

    Ngày 14 tháng 9 năm 1958, Phạm Văn Đồng trong trách vụ Thủ tướng của cái gọi là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (miền Bắc Việt Nam) đã gửi một công hàm cho Thủ tướng Trung Cộng Chu Ân Lai ủng hộ bản tuyên bố của Trung Cộng về lãnh hải vào lúc đó. Bản tuyên bố của Trung quốc đã được ban thường trực quốc hội nhân dân Trung quốc phê chuẩn vào ngày 4 tháng 9 năm 1958 có đoạn quan trọng như sau: ”Bề rộng lãnh hải của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc là 12 hải lý. Ðiều lệ này áp dụng cho toàn lãnh thổ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, bao gồm phần đất Trung Quốc trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Ðài Loan (tách biệt khỏi đất liền và các hải đảo khác bởi biển cả) và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu, quần đảo Ðông Sa, quần đảo Tây Sa (tức là Hoàng sa theo cách gọi của Việt Nam), quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa (tức là Trường sa theo cách gọi của Việt Nam), và các đảo khác thuộc Trung Quốc”.

    Công Hàm của Phạm Văn Đồng đã viết như sau: ”Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung hoa, quyết định về hải phận của Trung Quốc. Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung quốc, trong mọi quan hệ với nước Cộng hòa nhân dân Trung hoa trên mặt bể”.

    Công hàm của Phạm Văn Đồng gửi cho Thủ tướng Chu Ân Lai xảy ra 2 năm sau khi chính quyền Việt Nam Cộng hòa (miền Nam Việt Nam) ra tuyên bố tái xác nhận chủ quyền trên quần đảo Hoàng sa và Trường sa vào tháng 4 năm 1956. Điều này cho thấy là phía chính quyền miền Nam Việt Nam đã tuyên bố chủ quyền trên các quần đảo của mình sau Hiệp định Genève năm 1954; trong khi Cộng sản Việt Nam ở miền Bắc thì lại phủ nhận sự kiện này, đứng về phía chủ trương của Trung Quốc.

    Giải thích cho lý do này, trong một cuộc họp báo vào ngày 2 tháng 12 năm 1992, Nguyễn Mạnh Cầm, Bộ trưởng Ngoại giao Cộng sản Việt Nam đã nói rằng lúc đó, theo Hiệp định Genève năm 1954 về Đông Dương, các lãnh thổ từ vĩ tuyến 17 về phía Nam bao gồm hai quần đảo Hoàng sa và Trường sa đặt dưới sự kiểm soát của chính quyền miền Nam Việt Nam, kẻ thù của miền Bắc. Đồng thời, Trung quốc đã từng giúp cho chính quyền miền Bắc quá nhiều coi như là vô giá trong các năm sau thập niên 40 nên các nhà lãnh đạo miền Bắc vào lúc đó thấy rằng cần phải lên tiếng ủng hộ tuyên bố của Trung Quốc là cần thiết vì nó trực tiếp phuc vụ cho sự đấu tranh bảo vệ độc lập và tự do cho tổ quốc (sic). Nhưng sau đó, ông Nguyễn Mạnh Cầm lại nói rằng việc tuyên bố ủng hộ bản tuyên bố của Trung Quốc vào năm 1958 không dính dáng gì đến nền tảng lịch sử và pháp lý trong chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng sa và Trường sa.

    Sự lên tiếng của Nguyễn Mạnh Cầm nói trên, xảy ra sau 4 năm hải quân Trung Quốc đánh chiếm Truờng sa vào tháng 3 năm 1988 khiến 74 bộ đội bị tử thương. Trước đó Cộng sản Việt Nam cũng đã hoàn toàn im lặng khi hải quân Trung Quốc đánh chiếm Hoàng sa vào tháng 1 năm 1974 khiến có 34 binh sĩ Việt Nam cộng hòa tử thương. Với những diễn tiến như vậy, chúng ta thấy là những giải thích của ông Nguyễn Mạnh Cầm đã biểu hiện ba điều sau đây:

    Thứ nhất là vì chịu ơn Trung Quốc quá nhiều trong việc giúp đỡ cho Cộng sản Việt Nam xây dựng chính quyền ở miền Bắc từ sau năm 1945 nên họ đã phải trả ơn bằng cách công nhận chủ quyền của Bắc Kinh trên các quần đảo Hoàng sa và Trường sa.

    Thứ hai là lãnh đạo Cộng sản Việt Nam hoàn toàn không có một ý niệm gì về sự toàn vẹn lãnh thổ và độc lập dân tộc, tất cả bị chi phối bởi phong trào cộng sản quốc tế với nghĩa vụ bành trướng chủ nghĩa cộng sản ở khắp nơi. Chính vì vậy mà lãnh đạo Hà Nội đã không coi Hoàng sa và Trường sa là của họ vì nằm trong sự kiểm soát của chính quyền thù địch ở miền Nam, nên Trung Quốc

    Trả lờiXóa
  8. TOAN` DAN TOAN` QUAN PHAN DOI' CONG HAM` BAN' NUOC' CUA DANG CSVN:

    Giới Cựu Chiến Binh khởi động kiến nghị hủy bỏ Công Hàm Phạm Văn Đồng 14.09.1958
    Các bài liên hệ:
    Bãi Tục Lãm: Lại Mất Thêm Đất !

    KIẾN NGHỊ HỦY BỎ
    CÔNG HÀM 14 THÁNG 9 NĂM 1958 CỦA THỦ TƯỚNG PHẠM VĂN ĐỒNG
    Kính gửi: Ông Nông Đức Mạnh Tổng Bí Thư Đảng Cộng sản Việt Nam

    Ông Nguyễn Minh Triết Chủ Tịch Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

    Ông Nguyễn Tấn Dũng Thủ Tướng Chính Phủ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

    Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ Tịch Quốc Hội Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

    Thưa các ông,

    Từ nhiều năm nay, Chính phủ ta đã khẳng định Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam. Nhưng thực tế cho thấy phía chính quyền Trung Quốc đã không những không tôn trọng điều khẳng định của Chính phủ ta mà còn liên tục có những hành động xâm phạm chủ quyền của ta:

    Tháng 1 năm 1974, Trung Quốc đã xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa.

    Tháng 5 năm 1988, Trung Quốc đã xâm chiếm nhiều đảo ở Trường Sa.

    Tháng 11 năm 2007, Trung Quốc đã cho thiết lập huyện Tam Sa để trực tiếp quản lý hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong lúc hai quần đảo này còn trong vòng tranh chấp giữa ta và chính quyền Trung Quốc.

    Tháng 7 năm 2008, Trung Quốc đã cảnh báo và yêu cầu tập đoàn dầu khí Exxon Mobil của Hoa Kỳ rút khỏi hợp đồng khai thác mỏ dầu với chính phủ ta. Trước đó, vào tháng 6 năm 2007, nhà cầm quyền Trung Quốc cũng đã phản đối và yêu cầu ngưng hợp đồng giữa Chính phủ ta với tập đoàn dầu khí BP của Anh nhằm nghiên cứu dầu khí gần khu vực quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, khiến cho tập đoàn BP đã phải tạm ngưng kế hoạch xúc tiến.

    Mới đây, trong khi chuẩn bị Thế vận hội Bắc Kinh năm 2008, nhà cầm quyền Trung Quốc đã vẽ lại bản đồ Trung Quốc trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của ta. Giữa tháng 8 năm 2008, hải quân Trung Quốc trang bị dàn hỏa tiễn tối tân xâm nhập vào khu vực lãnh hải của Việt Nam.

    Những hành động nói trên cho thấy là nhà cầm quyền Trung Quốc coi thường công luận và tiếp tục xâm phạm hải đảo của Việt Nam, trong khi Chính phủ ta chỉ lên tiếng phản đối một cách quá dè dặt. Một trong những văn bản bị Trung Quốc lợi dụng để khẳng định chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa là Công hàm của thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi cho thủ tướng Chu Ân Lai vào ngày 14 tháng 9 năm 1958 xác nhận rằng: "Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc".


    (Bản Tuyên bố của Trung Quốc khẳng định hải phận 12 hải lý của họ, trong đó bao gồm chủ quyền trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa).


    (Bản dịch tiếng Việt)

    Tuyên Bố của Chính Phủ Nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc về Lãnh Hải (Ðược thông qua trong kỳ họp thứ 100 của Ban Thường Trực Quốc Hội Nhân Dân ngày 4 tháng 9 năm 1958)

    Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc nay tuyên bố:

    (1) Bề rộng lãnh hải của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc là 12 hải lý. Ðiều lệ này áp dụng cho toàn lãnh thổ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, bao gồm phần đất Trung Quốc trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Ðài Loan (tách biệt khỏi đất liền và các hải đảo khác bởi biển cả) và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu, quần đảo Ðông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc.

    (2) Các đường thẳng nối liền mỗi điểm căn bản của bờ biển trên đất liền và các đảo ngoại biên ngoài khơi được xem là các đường căn bản của lãnh hải dọc theo đất liền Trung Quốc và các đảo ngoài khơi. Phần biển 12 hải lý tính ra từ các đường căn bản là hải phận của Trung Quốc. Phần biển bên trong các đường căn bản, kể cả vịnh Bohai và eo biển Giongzhou, là vùng nội hải của Trung Quốc. Các đảo bên trong các đường căn bản, kể cả đảo Dongyin, đảo Gaodeng, đảo Mazu, đảo Baiquan, đảo Niaoqin, đảo Ðại và Tiểu Jinmen, đảo Dadam, đảo Erdan, và đảo Dongdinh, là các đảo thuộc nội hải Trung Quốc.

    (3) Nếu không có sự cho phép của Chính Phủ Cộn

    Trả lờiXóa
  9. 9 Thủ Đoạn Xâm Lấn Của Trung Quốc
    Chân Trời Mới
    Các bài liên hệ:
    Hoàn tất phân giới cắm mốc biên giới Việt - Trung: Đâu là sự thật – Đâu là dối trá lừa bip

    Thưa quí thính giả và độc giả của Radio Chân Trời Mới,

    Chỉ vào một vài thời điểm rất hiếm hoi trong hơn nửa thế kỷ qua mà nhà cầm quyền CSVN thực sự tiết lộ những hành vi và ý định xâm lấn có tính qui mô, kế hoạch và liên tục của Bắc Kinh đối với lãnh thổ Việt Nam. Vào năm 1979, khi các xung đột lớn diễn ra giữa 2 nước, Lãnh đạo Đảng CSVN đã cho in 3 cuốn sách với tựa đề:

    Sự Thật Về Quan Hệ Việt Nam - Trung Quốc Trong 30 Năm Qua của Bộ Ngoại Giao CHXHCNVN.

    Phê Phán Chủ Nghĩa Bành Trướng và Bá Quyền Nước Lớn Của Giới Cầm Quyền Phản Động Bắc Kinh của Ủy Ban Khoa Học Xã Hội Việt Nam.

    Vấn Đề Biên Giới Giữa Việt Nam và Trung Quốc của Nhà xuất bản Sự Thật.

    Dưới đây là nguyên văn chương 2 của cuốn "Vấn đề biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc", liệt kê 9 loại thủ đoạn mà Trung Quốc đã sử dụng để xâm chiếm đất nước Việt Nam trong hơn nửa thế kỷ qua.

    --------------------------------------------------------------------------------

    Chương 2
    Tình hình Trung Quốc lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam từ năm 1954 đến nay

    Trong một phần tư thế kỷ vừa qua, nhà cầm quyền Trung Quốc đã lần lượt lấn chiếm hết khu vực này đến khu vực khác của Việt Nam, từ khu vực nhỏ hẹp đến khu vực to lớn, từ khu vực quan trọng về quân sự đến khu vực quan trọng về kinh tế. Họ đã dùng đủ loại thủ đoạn, kể cả những thủ đoạn xấu xa mà các chế độ phản động của Trung Quốc trước kia không dùng. Dưới đây là một số thủ đoạn chính:

    1- Từ xâm canh, xâm cư, đến xâm chiếm đất.

    Lợi dụng đặc điểm là núi sông hai nước ở nhiều nơi liền một giải, nhân dân hai bên biên giới vốn có quan hệ họ hàng, dân tộc, phía Trung Quốc đã đưa dân họ vào những vùng lãnh thổ Việt Nam để làm ruộng, làm nương rồi định cư. Những người dân đó ở luôn chỗ có ruộng, nương, cuối cùng nhà cầm quyền Trung Quốc ngang ngược coi những khu vực đó là lãnh thổ Trung Quốc.

    Khu Vực Trình Tường thuộc tỉnh Quảng Ninh là một thí dụ điển hình cho kiểu lấn chiếm đó. Khu vực này được các văn bản và các bản đồ hoạch định và cắm mốc xác định rõ ràng là thuộc lãnh thổ Việt Nam. Trên thực tế, trong bao nhiêu đời qua, những người dân Trình Tường, những người Trung Quốc sang quá canh ở Trình Tường đều đóng thuế cho nhà đương cục Việt Nam. Nhưng từ năm 1956, phía Trung Quốc tìm cách nắm số dân Trung Quốc sang làm ăn ở Trình Tường bằng cách cung cấp cho họ các loại tem phiếu mua đường vải và nhiều hàng khác, đưa họ vào công xã Đồng Tâm thuộc huyện Đông Hưng, khu tự trị Choang-Quảng Tây. Nhà đương cục Trung Quốc nghiễm nhiên biến một vùng lãnh thổ Việt Nam dài 6 kí-lô-mét, sâu hơn 1300 kí-lô-mét thành sở hữu tập thể của một công xã Trung Quốc. Từ đó, họ đuổi những người Việt Nam đã nhiều đời nay làm ăn sinh sống ở Trình Tường đi nơi khác, đặt đường dây điện thoại, tự cho phép đi tuần tra khu vực này, đơn phương sửa lại đường biên giới sang đồi Khâu Thúc của Việt Nam. Tiếp đó, họ đã gây ra rất nhiều vụ hành hung, bắt cóc công an vũ trang Việt Nam đi tuần tra theo đường biên giới lịch sử và họ phá hoại hoa màu của nhân dân địa phương. Trình Tường không phải là một trường hợp riêng lẻ, còn đến trên 40 điểm khác mà phía Trung Quốc tranh lấn với thủ đoạn tương tự như xã Thanh Lòa, huyện Cao Lộc (mốc 25, 26, 27) ở Lạng Sơn, Khẳm Khau (mốc 17-19) ở Cao Bằng, Tả Lũng, Làn Phù Phìn, Minh Tân (mốc 14) ở Hà Tuyên, khu vực xã Nặm Chay (mốc 2-3) ở Hoàng Liên Sơn với chiều dài hơn 4 kí-lô-mét, sâu hơn 1 kí-lô-mét, diện tích hơn 300 héc-ta.

    Có thể nói đây là một kiểu chiếm đất một cách êm lặng.

    2- Lợi dụng việc xây dựng các công trình hữu nghị để đẩy lùi biên giới sâu vào lãnh thổ Việt Nam.

    Năm 1955, tại khu vực Hữu nghị quan, khi giúp Việt Nam khôi phục đoạn đường sắt từ biên giới Việt-Trung đến Yên Viên, gần Hà Nội, lợi dụng long tin của Việt Nam, phía Trung Quốc đã đặt điểm nối ray đường sắt Việt-Trung sâu trong lãnh thổ Việt Nam trên 3

    Trả lờiXóa
  10. Trung Quốc lợi gì trong chiến tranh Việt Nam?:

    Tuesday, 23 December 20080 y kien Nước Trung Hoa Cộng sản trên trang bìa của tạp chí Time

    Trần Gia Phụng

    1.- TỔNG QUAN

    Chiến tranh Việt Nam kéo dài trong 30 năm, từ 1946 đến 1975, có thể chia thành ba giai đoạn.

    Giai đoạn thứ nhất từ 1946 đến 1949: Khi Pháp đưa quân tái chiếm Việt Nam, Hồ Chí Minh, mặt trận Việt Minh (VM) và chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) nhượng bộ và thỏa hiệp với Pháp, ký liên tiếp hai thỏa ước để duy trì quyền lực của VM và đảng Cộng Sản Đông Dương (CSĐD). Tuy nhiên, Pháp không ngừng tiến quân và ép VM đến đường cùng. Hồ Chí Minh liền họp trung ương đảng CSĐD trong hai ngày 18 và 19-12-1946 tại Vạn Phúc (Hà Đông) để tham khảo. Cuộc họp đi đến quyết định tấn công Pháp vào tối 19-12-1946.(1) Thế là chiến tranh không tuyên chiến bùng nổ. Từ năm 1946 đến năm 1949, VM vừa đánh, vừa đàm, vừa trốn chạy lên miền rừng núi để chờ đợi thời cơ..

    Giai đoạn thứ hai từ 1950 đến 1954: Trong cuộc tranh chấp tại Trung Quốc, Mao Trạch Đông và đảng Cộng Sản Trung Quốc (CSTQ) thành công. Tưởng Giới Thạch và Quốc Dân Đảng chạy ra Đài Loan. Mao Trạch Đông công bố thành lập chính thể Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (gọi tắt là Trung Quốc).

    Hồ Chí Minh và VM cầu viện CSTQ. Nhờ sự giúp đỡ về mọi mặt của của Trung Quốc, VM phản công từ năm 1950 và cuối cùng chiến thắng năm 1954. Chẳng những VM, mà cả Việt Nam se phải trả giá cho sự cầu viện và chiến thắng nầy. Hiệp định Genève ngày 20-7-1954, chia hai đất nước ở sông Bến Hải, vùng vĩ tuyến 17. Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (tức VM cộng sản) ở miền Bắc, Quốc Gia Việt Nam (hậu thân là Việt Nam Cộng Hòa) ở miền Nam. Trước khi ký hiệp định Genève, VM đã đưa ra kế hoạch gài người ở lại miền Nam, trường kỳ mai phục để chống lại QGVN.(2)

    Giai đoạn thứ ba từ 1960 đến 1975: Từ năm 1955, Bắc Việt bắt đầu kiếm cách gây hấn, đòi hỏi Nam Việt phải tổ chức tổng tuyển cử vào năm 1956 theo dự kiến trong điều 7 bản “Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương” ngày 21-7-1954. Cần chú ý, bản tuyên bố cuối cùng nầy không có chữ ký của bất cứ phái đoàn nào, kể cả phái đoàn VM tức VNDCCH.

    Một bản tuyên bố không có chữ ký không thể là một văn bản pháp lý có tính cưỡng hành, mà chỉ có tính cách dự kiến tương lai mà thôi. Phái đoàn QGVN chẳng những không ký hiệp định Genève, mà còn không tham dự vào bản “Tuyên bố cuối cùng… “, nên tự cho rằng không bị ràng buộc vào điều 7 của bản tuyên bố nầy và không chấp nhận tổng tuyển cử.

    Lấy lý do Nam Việt không chấp nhận tổng tuyển cử, Bắc Việt quyết định tấn công Nam Việt. Đầu tiên, Ban Bí thư Trung ương đảng Lao Động (LĐ, hậu thân của đảng CSĐD) ra chỉ thị ngày 24-5-1958, tổ chức học tập chủ thuyết Mác-Lê để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Bắc Việt và tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Nam Việt.

    Vào cuối năm nầy, Lê Duẫn được bí mật gởi vào Nam để nghiên cứu tình hình. Khi trở ra Bắc, bản báo cáo của Lê Duẫn đã đưa đến quyết định của Uỷ ban Trung ương đảng LĐ tại hội nghị lần thứ 15 ở Hà Nội ngày 13-5-1959, theo đó đảng LĐ ra nghị quyết thống nhất đất nước (tức đánh chiếm miền Nam bằng võ lực) và đưa miền Bắc tiến lên xã hội chủ nghĩa. (Nghị quyết đăng trên Nhân Dân ngày 14-5-1959)

    Nghị quyết trên đây được lập lại trong Đại hội 3 đảng LĐ, khai diễn từ ngày 5-9 đến ngày 10-9-1960 tại Hà Nội, mệnh danh là “Đại hội xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà“, đưa ra hai mục tiêu lớn của đảng LĐ là xây dựng miền Bắc tiến lên Xã hội chủ nghĩa và “giải phóng” miền Nam bằng võ lực. (3) Thế là chiến tranh tái phát từ năm 1960 đến năm 1975. Cộng sản Bắc Việt cưỡng chiếm Nam Việt ngày 30-4-1975.

    Trong ba giai đoạn trên đây của cuộc chiến ba mươi năm ở Việt Nam, Trung Quốc đã giúp phía VM cộng sản từ giai đoạn thứ hai tức từ năm 1950 trở đi. Sự giúp đỡ của Trung Quốc cho phe cộng sản Việt Nam đã quá rõ ràng, không cần nhắc lại. Ở đây, chỉ xin thử bàn Trung Quốc đã hưởng lợi gì sau khi giúp phe CSVN thắng thế?

    2.- TRONG G

    Trả lờiXóa
  11. Nhìn lại 50 năm công hàm ban' nuoc cua Phạm Văn Đồng:

    Sau này, vào những năm cuối đời, ông Phạm Văn Đồng biện bạch cho việc ông phải ký công hàm bán nước năm 1958 là vì lúc đó đang thời chiến. Vào năm 1958 không có cuộc chiến tranh nào cả.

    Ngày 4 tháng 9 năm 1958 chính phủ Trung Quốc ra tuyên cáo mở rộng lãnh hải của họ từ 3 hải lý thành 12 hải lý, áp dụng cho tất cả các lãnh thổ và hải đảo của Trung Quốc, trong đó họ bao gồm cả Tây Sa và Nam Sa (tức Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam). Mười ngày sau, ông Phạm Văn Đồng, thủ tướng cộng sản Việt Nam, gửi công hàm cho thủ tướng Chu Ân Lai của Trung Quốc, tán thành tuyên cáo nói trên, mà không hề có lời phản bác nào trước việc Trung Quốc ngang nhiên xem Hoàng Sa và Trường Sa thuộc lãnh thổ của họ. Hơn một tuần sau, báo Nhân Dân ra ngày 22 tháng 9 đăng toàn văn công hàm vừa kể, để toàn đảng, toàn dân và thế giới biết hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ nay không còn là của Việt Nam nữa.

    Bức công hàm tuy chỉ dài 121 chữ, nhưng nói rất rõ là chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, tức cộng sản Việt nam, chẳng những “ghi nhận”, “tán thành” mà còn chỉ thị cho các cấp “triệt để tôn trọng” hải phận của Trung Quốc bao gồm cả Hoàng Sa lẫn Trường Sa. Như vậy, ngay trên văn bản này, ông Phạm Văn Đồng đã không nhân danh cá nhân ông, mà thay mặt cho chính phủ cộng sản Việt Nam ký kết. Trên thực tế, trong cương vị Thủ tướng, ông Phạm văn Đồng phải là người ký công hàm. Nhưng người ta đều biết, ông ta không phải là người tự quyết định, mà chỉ thừa hành quyết định chung của 11 người trong Bộ chính trị hồi đó, mà người đứng đầu là ông Hồ Chí Minh. Sau 32 năm ngồi ghế thủ tướng, khi về vườn, ông Phạm Văn Đồng đã gián tiếp xác nhận điều này qua lời than thở rằng, ông chẳng có quyền hành gì cả.

    Sau này, vào những năm cuối đời, ông Phạm Văn Đồng biện bạch cho việc ông phải ký công hàm bán nước năm 1958 là vì lúc đó đang thời chiến. Nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm cũng đã đưa ra những lời biện bạch tương tự, và được Thông tấn xã Việt Nam loan ngày 3 tháng 12 năm 1992. Ông Nguyễn Mạnh Cầm cho rằng, việc cộng sản Việt Nam ủng hộ Trung Quốc công bố chủ quyền của họ trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là cần thiết, vì nó phục vụ cho cuộc chiến bảo vệ tổ quốc. Cả hai lời biện bạch này vừa là những lời nói dối, vừa cho thấy sai lầm to lớn của đảng cộng sản Việt Nam, căn nguyên đưa đến sự bại liệt của nước ta hiện nay. Vào năm 1958 không có cuộc chiến tranh nào cả. Lúc đó miền Nam chỉ có một ít cố vấn Mỹ, không nhiều gì hơn số cố vấn Nga, Tàu ở miền bắc. Nhưng đảng cộng sản Việt Nam đã hoạch định cuộc xâm lăng miền Nam, gọi là cuộc chiến “chống Mỹ cứu nước” tại đại hội đảng lần thứ 3, năm 1959. Chính cuộc chiến mà ông Hồ Chí Minh và nhóm lãnh đạo cộng sản nhất định phải tiến hành cho bằng được, dù có phải “đốt cháy cả dãy Trường Sơn”, đã tàn phá đất nước, làm kiệt quệ sinh lực dân tộc. Rồi sau đó, với những sai lầm liên tiếp khác, đảng cộng sản Việt Nam đã đưa đất nước xuống hố sâu của sự khánh kiệt mọi mặt; đành phải thúc thủ trước sự hung hăng của Trung Quốc. Ngày nay người ta đều phải thừa nhận là, miền nam trước kia dù phải chịu đựng chiến tranh, nhưng cũng đã phát triển ngang hàng hoặc hơn các nước trong vùng. Nếu cộng sản Việt Nam đừng gây ra cuộc chiến, thì đến nay chắc chắn miền Nam đã phát triển, hùng cường không thua kém gì Đại Hàn. Trong tình hình đó, liệu Trung Quốc có dám khinh thường Việt Nam như hiện nay không?

    Trở lại bức công hàm bán nước năm 1958; 20 năm sau; bộ ngoại giao của Hà Nội ra tuyên bố cho rằng, công hàm đó chỉ mang tính chất ngoại giao. Cùng năm đó, báo chí đăng tin ông Lý Tiên Niệm, phó thủ tướng Trung Quốc nói rằng : “80 năm sau Trung Quốc mới nói chuyện Hoàng Sa, Trường Sa với Việt Nam”. Lời tuyên bố này khiến người ta phải tự hỏi, liệu còn những mật ước dâng nhượng đất đai khác của Hà Nội mà Bắc Kinh chưa tiết lộ không? Nhìn vào sự thậm thụt của cộng sản Việt Nam trong các hiệp định trên bộ năm 1999 và trên biển năm 2000, thì nghi vấn vừa kể không phải là vô căn cứ. Thỉnh thoảng, khi không bằng lòng đàn em ở

    Trả lờiXóa
  12. THE' KET CUA DANG CSVN HIEN NAY:

    Hiện nay, cuộc đấu tranh trong nước gồm nhiều mặt:

    1) Cuộc đấu tranh của dân oan đòi lại đất đai bị CSVN cướp đoạt cách bất công bằng những đơn khiếu kiện, bằng những cuộc biểu tình, đặc biệt tại Hà Nội và Sàigòn.

    2) Cuộc đấu tranh của người công nhân bị bóc lột qua các cuộc đình công khắp nơi trong nước.

    3) Cuộc đấu tranh của các nhà dân chủ đòi CSVN phải thực thi dân chủ đa nguyên và tôn trọng các quyền làm người của người dân.

    4) Cuộc đấu tranh của giới trí thức, sinh viên chống Trung Quốc chiếm Hoàng Sa Trường Sa, đồng thời lên án hành động bán nước của CSVN qua việc bán đất nhượng biển cho Trung Quốc.

    5) Cuộc đấu tranh của Tòa TGM Hà Nội và giáo dân Thái Hà đòi lại đất đai và cơ sở bị CSVN cướp đoạt mấy thập niên qua.

    Ba cuộc đấu tranh của dân oan, công nhân, và các nhà dân chủ − đặc biệt của Khối 8406 − là cuộc đấu tranh thường hằng mà CSVN phải điên đầu đối phó suốt nhiều năm qua. Hai cuộc đấu tranh sau chỉ mới nổi lên gần đây nhưng lại dồn CSVN vào ngõ bí. Tất cả những cuộc đấu tranh ấy đều được các nhà dân chủ − đặc biệt các thành viên Khối 8406 − sẵn sàng yểm trợ, tiếp tay, đưa tin vì chúng luôn luôn tạo lợi thế cho cuộc đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền.

    Hai cuộc đấu tranh xảy ra mới đây − Vụ Thái Hà đòi đất và vụ sinh viên biểu tình chống Trung Quốc − đã tạo cho nhà cầm quyền CSVN lâm vào thế kẹt, vì:

    − Vụ Tòa Khâm Sứ và Thái Hà: CSVN đã lỡ cướp đất của Giáo Hội từ mấy thập niên trước. Tưởng nuốt trôi được những mảnh đất ấy, CSVN đã sang tay cho các chủ mới − thường là những tay tư bản đỏ, những cán bộ cấp cao trong đảng CSVN − với giấy tờ “hợp pháp” hẳn hoi, và tiền thu được đã chia chác nhau và thành của riêng hết. Nay đảng CSVN đang thời suy tàn, móng vuốt không còn sắc bén và mạnh mẽ như “thuở tung hoành hống hách những ngày xưa” thì Tòa Giám mục Hà Nội và giáo dân Thái Hà lại lên tiếng đòi đất lại với những chứng cứ, giấy tờ hợp pháp về chủ quyền những miếng đất bị cướp. Để đối phó, CSVN đã tìm đủ mọi thủ đoạn gian trá, du côn, thậm chí hèn hạ và tiểu nhân tới cùng cực: nào là ngụy tạo giấy tờ giả, bằng chứng giả, nào là dùng truyền thông độc quyền để vu khống, nào là cho công an tay sai và xã hội đen đến đánh đập khủng bố giáo dân Thái Hà, v.v... Tưởng dùng kế “cả vú lấp miệng em”, “sức mạnh phát xuất từ đầu súng” là sẽ giải quyết được thế bí. Nhưng những “bài cũ soạn lại” ấy đã không thành công. Kẻ cướp không sao chứng minh được cách thuyết phục việc cướp đoạt bất hợp pháp của mình là hợp pháp, hợp lý, cũng không sao chấm dứt cuộc tranh đấu rõ ràng là đầy chính nghĩa này.

    Như vậy, có muốn trả lại đất cho Thái Hà và Tòa Giám Mục thì lấy đất đâu ra mà trả? Giả như có đất để trả thì cũng không trả được, vì nếu trả cho giáo xứ này, tôn giáo này thì các giáo xứ khác, các tôn giáo khác được thể sẽ ra sức đòi cho bằng được… Đảng CSVN sẽ lâm vào thế hết sức kẹt. Nhưng nếu không trả lại đất cho Thái Hà và Tòa Giám Mục thì họ cứ tranh đấu hoài; điều này làm CSVN bị mất mặt với thế giới. Dùng biện pháp mạnh để giải tán thì bị mang tiếng là đàn áp tôn giáo, bị đưa lại vào danh sách CPC; điều này khiến đảng và cá nhân các đảng viên sẽ bị thiệt hại biết bao quyền lợi!!! Thật là thiên nan vạn nan!

    − Vụ biểu tình chống Trung Quốc: Việc CSVN bán đất nhượng biển cho Trung Quốc rõ ràng là một hành động bán nước mà hiện nay không sao ém nhẹm được nữa. Người dân trong nước đã nhìn thấy rất rõ ràng đảng CSVN thực chất chỉ là một đảng cướp, chỉ khác với những đảng cướp khác ở chỗ đã cướp được chính quyền mà thôi. Một đằng thì đảng này cướp đoạt đất đai, tài sản của dân, kể cả những người dân nghèo khổ nhất, đằng khác họ lại sẵn sàng dâng đất biển của tổ quốc cho quan thầy ngoại bang − vố là kẻ thù truyền kiếp của dân tộc − chỉ để giữ vững ngai vàng. Đúng là “đội trên đạp dưới”, đảng chẳng hề vì dân vì nước một chút nào mà chỉ vì lòng tham vô đáy cố hữu của một đảng cướp chính hiệu.

    Việc biểu tình chống Trung Quốc chiếm đất chiếm biển rõ ràng là một hành động yêu nước và hết sức chính

    Trả lờiXóa
  13. CHỐNG PHÁ NHÀ NƯỚC CÓ LÀM NGUY HẠI AN NINH QUỐC GIA?

    "Chống phá nhà nước làm nguy hại an ninh quốc gia" – bửu bối của chính quyền cộng sản được sử dụng để chụp mũ cho những ai có ý đồ dân chủ hóa đất nước Việt Nam này.

    Thời gian gần đầy, cùng với sự phát triển của hệ thống thông tin đa chiều - "hệ thống blogs", cộng đồng bloggers và đọc giả của họ nhắc đến rất nhiều sau khi có thông tư quản lý blogs của bộ 4T.

    Vậy, thế nào là chống phá nhà nước? Thế nào là làm nguy hại an ninh quốc gia? Chống quá nhà nước có làm nguy hại an ninh Quốc gia?

    Xin được phép mạn bàn cùng quý vị.

    Chống phá nhà nước?

    Chống phá nhà nước được hiểu là những hành vi làm trái ngược với chủ trương và chính sách nhà nước, gây khó khăn cho chính quyền trong việc điều hành và lãnh đạo đất nước, gây hao tổn về sức người lẫn tiền bạc.

    Thông thường, những hành vi đi ngược lại chủ trương và chính sách của nhà nước sẽ gây cản trở và khó khăn trong việc điều hành và lãnh đạo của chính phủ và những việc như vậy thường được coi là chống phá nhà nước.

    Thật khó có thể định nghĩa hoặc diễn giải được thế nào là cản trở chính quyền? thế nào là gây khó khăn cho việc điều hành và lãnh đạo của chính phủ? Bởi mỗi sự việc và hiện tượng luôn luôn có thể nhìn từ nhiều khía cạnh khác nhau, với nhiều cách nhìn và gốc độ khác nhau. Với người này thì hành động này là tốt, với người kia thì hành động đó lại là sai.

    Cũng có thể thấy rằng, việc chống lại các chủ trương và đường lối sai lầm của chính phủ không phải lúc nào cũng là chống đối nhà nước nếu như sự chống đối đó giúp cho chính phủ nhận ra sự sai trái và kịp thời sữa chữa sai lầm. Những việc chống đối đó phải được coi là có công với nhà nước, với nhân dân và góp phần xây dụng quốc gia ngày càng tốt đẹp.

    Chống phá nhà nước có làm nguy hại an ninh quốc gia?

    Thông thường thì việc chống phá nhà nước sẽ làm nguy hại an ninh quốc gia. Khi một chính quyền (nhà nước) vì dân vì nước, vì sự tồn vong và phát triển của dân tộc và quốc gia thì việc chống phá chính quyền chính là việc làm hại đến an nguy quốc gia vì nó sẽ kìm hãm sự phát triển của quốc gia, tạo điều kiện cho thế lực thù địch quấy nhiễu và làm hại tổ quốc.

    Tuy nhiên, một khi chính quyền vì quyền lợi và địa vị của mình mà quên đi quyền lợi và sự phát triển của dân tộc, của quốc gia thì sự chống phá (chống đối) nhà nước không những không gây nguy hại cho quốc gia mà ngược lại chính là động lực để quốc gia đó tồn tại và phát triển.

    Thiên đường Việt Nam

    Trong một xã hội dân chủ, để giải quyết và phân định đúng sai, nhà nước sẽ lấy ý kiến của nhân nhân làm chủ để quyết định. Riêng tại thiên đường xã hội chủ nghĩa thì ý đảng sẽ thay ý dân bởi vì nhân dân làm chủ nhưng đảng lãnh đạo.

    Việt Nam đúng là thiên đường vì có những chuyện mà ở trần thế chẳng thể nào hiểu được. Ở Việt Nam không có ranh giới đúng sai, không có ranh giới giữa chống phá nhà nước và phat huy chính sách của chính phủ, cũng không có ranh giới giữa bán nước và bào vệ tổ quốc.

    Những người vì nước vì dân đã hi sinh thân mình để thực hiện chủ trương "xã hội của dân, do dân và vì dân" lại bị quy kết là chống phá nhà nước. Những Nguyễn Văn Lý, Lê Thị Công Nhân, Lên Văn Đài đấu tranh cho giai cấp công nhân thì bị quy kết là chống phá nhà nước. Những Nguyễn Xuân Nghĩa, Vũ Hùng, lê Nguyên Sang … đấu tranh cho quyền được nói, quyền được làm chủ bản thân và quyền được sống của nhân dân cũng bị quy kết là chống phá nhà nước. Họ đã hi sinh cuộc đời mình để thực hiện theo hiến pháp và pháp luật, cho sự phát triển của dân tộc. Ấy vậy mà họ vẫn bị kết tội là chống phá nhà nước làm nguy hại an ninh quốc gia. Thật đúng là thiên đường mà, không thể hiểu được.

    Trước sự việc Trung Cộng xâm chiếm đất đai và hải đảo, nhân dân đã tập hợp biểu tình để chống đối ngoại xâm thì chính quyền lại bắt bớ và đàn áp. Họ đã chống phá nhà nước và làm nguy hại quốc gia chăng? Lại là một cái lạ nữa ở thiên đường.

    Nhìn lại hơn 30 năm xây dựng đất nước, Chính quyền cộng sản đã mang l

    Trả lờiXóa
  14. Một quyết định thay đổi vận mạng đất nước



    Tâm thư gởi Bộ Chính Trị Đảng Cộng Sản Việt Nam

    Hãy thử nhận định những khó khăn trước mắt của Bộ Chính Trị Đảng Cộng Sản Việt Nam.

    1- Trung Quốc càng lúc càng xâm lấn Việt Nam một cách ngang ngược. Họ đã tuyên bố Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về huyện Tam Sa của họ năm rồi. Mới đây họ lại tuyên bố sẻ bỏ ra 29 tỷ đô để khai thác dầu khí ở vùng Biển Đông thuộc Việt Nam và đòi chính phủ Việt Nam phải nhường hẳn cho họ Bãi Tục Lảm thuộc tỉnh Quảng Ninh. Càng nhường, Trung Quốc càng lấn tới hơn nửa. Chủ trương giải quyết vấn đề biên giới và lảnh hải bằng thương thuyết rỏ ràng không có hiệu quả mà chỉ khiến Việt Nam càng thiệt thòi. Cứ đà này thì không những mất 2 đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà sẻ mất cả nước bởi vì tham vọng của Trung Quốc không chỉ là 2 quần đảo và dầu khí mà muốn chiếm lỉnh Việt Nam hoàn toàn để tiến xuống xâm lược các quốc gia Đông Nam Á khác như Thái Lan, Singapore, Mả Lai Á… Bởi vậy, nếu tiếp tục nhượng bộ Trung Quốc thì sẻ mất nước. Mà mất nước thì sẻ mất Đảng. Trung Quốc sẻ vắt chanh liệng vỏ như Bắc Việt đã đối xử với Mặt Trận Giãi Phóng Miền Nam. Nhưng, nếu chống trả bằng quân sự thì không dám vì Bộ Chính Trị đã bị Trung Quốc chế ngự từ lâu. Cho dù có gan làm liều thì cũng tự mình không đủ sức mạnh để đối đầu với Trung Quốc bằng quân sự. Ngoài ra, chưa kiếm đưọc đồng minh nào đủ mạnh để yểm trợ. Cho nên, vấn đề Trung Quốc là một vấn đề tiến thoái lưởng nan.

    2- Một khó khăn to lớn và không kém phần nghiêm trọng là kinh tế. Kinh tế Mỷ suy sụp khiến xuất cảng Việt Nam giảm đi nhiều. Dầu hỏa từ $150 một thùng nay giảm xuống còn $50. Đã vậy, siêu nhập cảng càng làm cán cân mậu dịch thâm thủng thêm. Trong khi đó, lạm phát vẩn còn gần 30%. Không khéo, nền kinh tế Việt Nam sẻ bị khủng hoảng vào năm 2009. Bộ Chính Trị vẩn chưa tìm ra phương án để cứu nguy nền kinh tế Việt Nam.

    3- Dân chúng trong nước đã bắt đầu mất niềm tin nơi chính quyền vì cán bộ tham nhũng, lạm quyền, cướp đất đai của dân lành và tôn giáo. Vật giá đắt đỏ khiến cuộc sống của người dân càng lúc càng khó khăn. Thêm vào đó, khi dân chúng biểu tình chống Trung Quốc xâm lấn Việt Nam lại bị chính phủ ngăn cấm và bắt bớ khiến lòng dân càng oán hận.

    4- Quân đội bắt đầu tỏ thái độ bất mản trước thái độ khiếp sợ Trung Quốc của Bộ Chính Trị. Quân đội chắc chắn sẻ không thụ động để Bộ Chính Trị tiếp tục bán hay nhượng đất đai và lãnh hải.

    5- Người Việt ở hải ngoại càng chống đối chế độ Cộng Sản Việt Nam hơn vì những hành vi bán nước và làm tay sai cho Trung Quốc của Đảng Cộng Sản Việt Nam.

    6- Tham nhũng vẩn còn là một quốc nạn vô phương cứu chửa. Vì chế độ độc tài nên sanh ra đặc quyền. Đặc quyền sanh ra tham nhũng. Nếu bài trừ tham nhũng cho đến nơi đến chốn, thì chẳng khác nào đảng tự sát.

    7- Quốc tế đã bắt đầu sáng mắt về nạn tham nhũng trầm trọng vô phương cứu chửa của chế độ độc tài đảng trị. Chuyện Nhật đình chỉ cung cấp vốn ODA cho Việt Nam đã làm chính phủ Việt Nam mất mặt và uy tín trên thế giới.

    8- Trước hàng trăm khó khăn trong cũng như ngoài, Đảng Cộng Sản Việt Nam lại phải đối phó tình trạng nội bộ chia rẻ, đấu đá tranh giành quyền lợi. Những vụ PMU-18 và PCI chắc là do phe phái khui ra để chơi nhau chớ người dân và báo chí làm gì có tự do, can đãm và khả năng khám phá được.

    Trước nhiều tình thế khó khăn và nan giải, tại sao các lảnh đạo trong Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Việt Nam vẩn muốn tiếp tục cầm quyền?

    - Vì yêu nước. Chắc chắn là không. Nếu họ thật tâm yêu nước, thì họ đã cho dân chủ hóa đất nước từ lâu.

    - Vì yêu Đảng? Cũng không vì Đảng Cộng Sản Việt Nam đã mất lý tưỡng từ khi chủ nghĩa Cộng Sản đã bị đào thải ở trên thế giới và mất thần tượng từ khi có nhiều sự thật xấu xa về Hồ Chí Minh được phơi bày. Và hiện nay, tham nhủng tràn lan từ trên xuống dưới và nạn buôn bán tranh giành quyền lực chức vị đã khiến người Cộng Sản không còn tha thiết và lòng tin nơi Đảng của họ nửa. Dầu biết rằng đảng không tốt đẹp gì nhưng người ta cứ bám vào nó để kiếm tiền.

    - Vì th

    Trả lờiXóa
  15. DANG CSVN HEN` NHAT' VA` BAN'
    NUOC':

    http://www.fmprc.gov.cn/eng/topics/3754/t19232.htm

    International Recognition Of China's Sovereignty over the Nansha Islands

    2000/11/17




    A. Many countries, world public opinions and publications of other countries recognize the Nansha Islands as Chinese territory.

    1. The United Kingdom of Great Britain and the Northern Island

    a) China Sea Pilot compiled and printed by the Hydrography Department of the Royal Navy of the United Kingdom in 1912 has accounts of the activities of the Chinese people on the Nansha Islands in a number of places.

    b) The Far Eastern Economic Review (Hong Kong) carried an article on Dec. 31 of 1973 which quotes the British High Commissioner to Singapore as having said in 1970: "Spratly Island (Nanwei Island in Chinese) was a Chinese dependency, part of Kwangtung Province? and was returned to China after the war. We can not find any indication of its having been acquired by any other country and so can only conclude it is still held by communist China."

    2. France

    a) Le Monde Colonial Illustre mentioned the Nansha Islands in its September 1933 issue. According to that issue, when a French gunboat named Malicieuse surveyed the Nanwei Island of the Nansha Islands in 1930, they saw three Chinese on the island and when France invaded nine of the Nansha Islands by force in April 1933, they found all the people on the islands were Chinese, with 7 Chinese on the Nanzi Reef, 5 on the Zhongye Island, 4 on the Nanwei Island, thatched houses, water wells and holy statues left by Chinese on the Nanyue Island and a signboard with Chinese characters marking a grain storage on the Taiping Island.

    b) Atlas International Larousse published in 1965 in France marks the Xisha, Nansha and Dongsha Islands by their Chinese names and gives clear indication of their ownership as China in brackets.

    3) Japan

    a) Yearbook of New China published in Japan in 1966 describes the coastline of China as 11 thousand kilometers long from Liaodong Peninsula in the north to the Nansha Islands in the south, or 20 thousand kilometers if including the coastlines of all the islands along its coast;

    b) Yearbook of the World published in Japan in 1972 says that Chinese territory includes not only the mainland, but also Hainan Island, Taiwan, Penghu Islands as well as the Dongsha, Xisha, Zhongsha and Nansha Islands on the South China Sea.

    4. The United States

    a) Columbia Lippincott World Toponymic Dictionary published in the United States in 1961 states that the Nansha Islands on the South China Sea are part of Guangdong Province and belong to China.

    b) The Worldmark Encyclopaedia of the Nations published in the United States in 1963 says that the islands of the People's Republic extend southward to include those isles and coral reefs on the South China Sea at the north latitude 4°.

    c) World Administrative Divisions Encyclopaedia published in 1971 says that the People's Republic has a number of archipelagoes, including Hainan Island near the South China Sea, which is the largest, and a few others on the South China Sea extending to as far as the north latitude 4°, such as the Dongsha, Xisha, Zhongsha and Nansha Islands.

    5. Viet Nam

    a) Vice Foreign Minister Dung Van Khiem of the Democratic Republic of Viet Nam received Mr. Li Zhimin, charge d'affaires ad interim of the Chinese Embassy in Viet Nam and told him that "according to Vietnamese data, the Xisha and Nansha Islands are historically part of Chinese territory." Mr. Le Doc, Acting Director of the Asian Department of the Vietnamese Foreign Ministry, who was present then, added that "judging from history, these islands were already part of China at the time of the Song Dynasty."

    b) Nhan Dan of Viet Nam reported in great detail on September 6, 1958 the Chinese Government's Declaration of September 4, 1958 that the breadth of the territorial sea

    Trả lờiXóa

Đăng nhận xét